RUBELLA VÀ THAI KỲ

Rubella va thai ky

Bệnh Rubella còn gọi là bệnh sởi Đức vì được các bác sĩ Đức mô tả lần đầu tiên như một bệnh khác biệt với bệnh sởi. Đây là bệnh lý nhiễm siêu vi nhẹ nếu ở người bình thường, nhưng nếu nhiễm ở người có thai thì gây nhiều tác hại cho thai nhi và sơ sinh.

Ở Mỹ, trước khi có vaccine phòng bệnh, bệnh rubella thường xuất hiện vào mùa xuân với các trận dịch lớn xảy ra sau mỗi 6 – 9 năm.

Khác với bệnh sởi, bệnh rubella ít lây nhiễm hơn. Siêu vi Rubella lây truyền qua những giọt nước bọt từ đường hô hấp của người bệnh. Sự lây truyền xảy ra cao nhất khi phát ban và có thể xảy ra từ 10 ngày trước khi phát ban cho đến 15 ngày sau khi phát ban.

Thời kỳ ủ bệnh trung bình là 18 ngày (12 – 23 ngày). Triệu chứng gồm các triệu chứng nhiễm siêu vi như sốt, mệt mỏi, nhức đầu, chảy nước mắt….và triệu chứng phát ban sau khi khởi sốt và kéo dài 3 – 5 ngày.

Phát ban thường bắt đầu ở đầu, mặt và lan dần xuống phần dưới cơ thể. Ban thường là những mảng đỏ, có thể to hay nhỏ, đường kính từ vài mm, nổi rời rạc chứ không tụ lại thành từng mảng như nổi mề đay. Ở người lớn, nhất là phụ nữ, thường có kèm theo triệu chứng đau khớp, xuất hiện khi bắt đầu sốt và kéo dài một vì tuần sau khi hết bệnh.

Có nhiều trường hợp nhiễm rubella nhưng với triệu chứn không rõ ràng, chỉ sốt nhẹ kèm đau nhức xương khớp (25 – 50%).

Virus Rubella là một tác nhân gây nhiều khuyết tật bẩm sinh nặng. Hội chứng rubella bẩm sinh gồm những biểu hiện lâm sàng của sơ sinh do nhiễm virus Rubella từ khi còn là bào thai nằm trong tử cung. Các biểu hiện này nặng hay nhẹ tùy thuộc vào thời điểm người mẹ mắc bệnh khi mang thai. Nếu người mẹ bị nhiễm Rubella trong 2 tháng đầu, 65 – 85% ảnh hưởng bào thai gây nhiều dị tật phối hợp hoặc sẩy thai. Vào tháng thứ 3, tỷ lệ dị tật là 30 – 35% và bào thai thường bị một dị tật đơn thuần như điếc, tim bẩm sinh. Vào tháng thứ 4, tỷ lệ này là 10% với một dị tật đơn thuần. Đôi khi bào thai bị nhiễm rubella vào bất kỳ tuổi thai nào cũng có thể không bị bất kỳ dị tật nào và điều này luôn đúng nếu nhiễm sau 36 tuần.

Những dị tật hường gặp nhất trong nhiễm rubella bẩm sinh gồm: đục thủy tinh thể, bệnh tim bẩm sinh, điếc, chậm phát triển tâm thần, dị tật thần kinh trung ương như đầu nhỏ, thoái hóa não có thể đưa đến viêm não – màng não, thiếu máu, giảm tiểu cầu, gan lách to, vàng da nặng….Hầu hết những dị tật này hoặc chỉ xuất hiện sau khi sinh hoặc chỉ là những dị khuyết tật chức năng nên không thể phát hiện bằng cách theo dõi thai qua siêu âm.

Các trường hợp mẹ mang thai bị tái nhiễm trước tuần lễ 12 của thai kỳ cũng có thể đưa đến khuyết tật bẩm sinh tuy nhẹ hơn.

Hiện nay không có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh rubella, chủ yếu điều trị triệu chứng: hạ sốt, giảm đau, và kháng viêm nếu có viêm khớp.

Phụ nữ mang thai nên tránh tiếp xúc với người bị nghi ngờ nhiễm rubella trong suốt 20 tuần đầu của thai kỳ, ngay cả khi đã có kháng thể bào vệ.

Vaccin phòng bệnh rubella có thể tiêm cho bất kỳ người nào có nguy cơ bị nhiễm bệnh và không mang thai. Vaccin không gây bệnh rubella bẩm sinh, tuy nhiên, không tiêm vaccin khi mang thai và không nên có thai ít nhất 3 tháng sau khi tiêm chủng. Có thể tiêm vaccin cho bà mẹ trong thời kỳ hậu sản, đang cho con bú

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s